Nâng cao chất lượng chuẩn hoá đội ngũ cán bộ viên chức tại Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM

Trong thời gian qua, Trường ĐH KHXH&NV đã đạt được những thành tựu to lớn về công tác cán bộ, đặc biệt là chuẩn hoá đội ngũ, tăng nhanh, bền vững tỉ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ.


1.Đặt vấn đề
Phi chuẩn hóa trình độ của CBVC đại học và cao đẳng là một yếu điểm lớn trong nền giáo dục Việt Nam; hiện tượng này có nguyên nhân sâu xa của nó. Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đảng và Nhà nước bắt tay ngay vào việc xây dựng một nền giáo dục dân tộc và dân chủ, phục vụ kháng chiến và kiến quốc. Nhiều nhân sĩ, trí thức theo tiếng gọi của Đảng đã cùng chung tay góp sức xây dựng nền giáo dục của dân tộc, đào tạo những thế hệ trí thức trẻ trên nguyên tắc “Dân tộc, khoa học, đại chúng”. Với quan điểm chỉ đạo đúng đắn của Đảng, nền giáo dục Việt Nam từng bước phát triển góp phần cùng dân tộc thực hiện cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, giải phóng hoàn toàn miền Bắc. Cách mạng nước ta bước vào một giai đoạn mới: Xây dựng Chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Giáo dục được Đảng ta xác định là công cụ của chuyên chính vô sản; Đảng lãnh đạo nhà trường, kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp trong giáo dục; giáo dục là một bộ phận của cách mạng văn hóa – tư tưởng. Đặc biệt với đề án cải cách giáo dục lần thứ hai được Chính phủ thông qua vào tháng 3 năm 1956, mục tiêu của cải cách giáo dục này là đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ phát triển về mọi mặt, trung thành với Tổ quốc, lao động tốt, có tài, có đức để phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên xây dựng CNXH ở nước ta.

Nhìn chung, dưới sự lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn từ năm 1954 – 1975, nền giáo dục của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong bối cảnh cả nước chiến tranh (từ 1964 – 1975), đó là “quy mô giáo dục ngày càng được mở rộng; nội dung phương pháp giáo dục được cải thiện một bước; đội ngũ giáo viên được tăng cường và bồi dưỡng; nhà trường được gắn chặt hơn với đời sống chiến đấu và sản xuất; một đội ngũ trí thức vừa hồng, vừa chuyên đã sớm được hình thành”. (GS.TSKH Đặng Vũ Hải, PGS.TS Đặng Bá Lâm, PGS.TS Trần Khán Đức (Đồng chủ biên), Giáo dục Việt Nam đổi mới và phát triển hiện đại hóa, Nxb Giáo Dục, 2007, tr.51).

Sau ngày thống nhất Tổ quốc năm 1975, cả nước có điều kiện bắt tay vào xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, tuy nhiên do sự tác động của nền kinh tế bao cấp, đồng thời phải đối phó với những cuộc chiến tranh biên giới, đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế, thiếu thốn lương thực, vật tư, nguyên liệu phục vụ cho sản xuất … Điều này cũng tạo ra những ảnh hưởng xấu đến hoạt động giáo dục và đào tạo. Song nếu so sánh với các giai đoạn trước kia, nền giáo dục Việt Nam cũng có những đột phá quan trọng. Chỉ xét trong phạm vi giáo dục đại học và cao đẳng trong 10 năm (từ 1975 – 1985), số cán bộ giảng dạy từ 9.642 người tăng lên 18.717 người; số sinh viên từ 92.097 tăng lên 124.120 người (nguồn : Giáo dục Việt Nam 1945 – 2005, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 177). Tuy nhiên, đây cũng là một thách thức cho giáo dục Việt Nam, đó là sự tăng lên của số lượng sinh viên cần có một số lượng giảng viên có trình độ cao đáp ứng yêu cầu cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Mặc dù trước thập kỷ 80, nước ta hằng năm gởi du học sinh từ 2000 đến 3000 sang Liên Xô và các nước XHCN có trình độ khoa học cao để đào tạo, nhưng so với yêu cầu phát triển thì số lượng ấy là không đủ. Tình trạng trên dẫn đến một thực tế là để đáp ứng yêu cầu phát triển số lượng sinh viên trong các trường đại học và cao đẳng, nhà nước cho phép sử dụng những cử nhân có học lực khá giỏi để giảng dạy bậc đại học, dẫn đến tình trạng “cơm chấm cơm” trong đào tạo đại học, mặt khác tạo ra một trong nhiều hạn chế bất cập trong lĩnh vực dạy và học đại học, đó là tình trạng lực lượng giảng viên đại học, cao đẳng của chúng ta vừa thừa, vừa thiếu. Nền giáo dục nước ta nói chung, giáo dục bậc đại học nói riêng không bắt kịp với sự vận động, phát triển các nước trong khu vực và trên thế giới. Điều này cũng không khó hiểu, trong điều kiện nguồn lực và kinh nghiệm có hạn, chúng ta không thể đồng thời giải quyết tốt cả chiều rộng lẫn chiều sâu, cả số lượng lẫn chất lượng. Qua thực tế xã hội, đòi hỏi công cuộc đổi mới toàn diện nền giáo dục Việt Nam phải tập trung hàng đầu và nhiều hơn cho vấn đề chất lượng. Đã qua rồi thời kỳ “học chay, học chạy”, công cuộc đổi mới hiện tại là phải nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu. Đại hội XI của Đảng đã đề ra hai nhiệm vụ cho ngành giáo dục: Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đột phá xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao.

2.Công cuộc đổi mới, nâng cao chất lượng chuẩn mực đội ngũ giảng viên của Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
a) Vị thế của Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn trong hệ thống giáo dục Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.

Trường ĐHKHXH&NV có lịch sử gần 60 năm hình thành và phát triển. Sau Hiệp định Genève 1954, trên cơ sở Đại học Văn khoa ở Hà Nội, Trường được tái lập ở Sài Gòn vào tháng 11 năm 1955 với tên gọi là Trường Cao đẳng dự bị Văn khoa Pháp và là trường thành viên của Viện Đại học Quốc gia Việt Nam ở Sài Gòn. Trong thời gian đất nước tạm chia cắt hai miền, được sự giác ngộ, giáo dục lý tưởng cách mạng của tổ chức cách mạng giải phóng miền Nam, nhiều thế hệ sinh viên của nhà trường đã cống hiến tuổi trẻ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Từ năm 1976, nhà trường trở thành bộ phận giảng dạy các ngành khoa học xã hội và nhân văn trong Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Được sự chi viện của miền Bắc về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực có trình độ cao, nhà trường dần đi vào ổn định thực hiện nhiệm vụ đào tạo. Nhiều thế hệ sinh viên có trình độ cao ngày nay đang làm công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học của trường vốn được đào tạo tại trường trong giai đoạn 1976-1996.

Ngày 30-3-1996, Trường mang tên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc hệ thống Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh theo quyết định số 1233/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trần Hồng Quân. Đây là điều kiện tốt để trường phát huy những tiềm năng thúc đầy sự phát triển nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học của trường. Năm 1998 cả trường chỉ có 9 khoa, với số lượng sinh viên chính quy là 438 người (nguồn: Báo cáo số 149/ĐT ngày 5/9/1998). Số cán bộ giảng dạy phần lớn là các sinh viên của trường sau khi tốt nghiệp được giữ lại để phục vụ công tác đào tạo. Trước tình hình đó nhà trường đã tập trung chỉ đạo, báo cáo số 96/CV/TCHC ngày 6/9/1999 có nêu: “Có kế hoạch tăng cường đội ngũ, nhất là cán bộ giảng dạy, cán bộ có trình độ cao. Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất là đến năm 2000 có trên 60% cán bộ giảng dạy có trình độ trên đại học”.

b) Thực trạng công tác chuẩn hóa đội ngũ giảng viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trong bối cảnh đất nước vừa thoát ra cơn khủng hoảng kinh tế, để đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực có tri thức khoa học, nhà trường đã tăng dần chỉ tiêu tuyển sinh đại học, đồng thời mở thêm nhiều ngành học mới. Ngay trong năm học 1999, nhà trường đã nâng từ 9 Khoa lên thành 13 Khoa với 1 Bộ môn (Giáo dục thể chất) trực thuộc trường, với 25 ngành đào tạo bậc đại học, 8 chuyên ngành cao học, 7 chuyên ngành nghiên cứu sinh. Số cán bộ giảng dạy của trường có 106 người có trình độ trên đại học chiếm tỷ lệ 42,23%, trong đó có 10 GS, PGS; 50TS; 57 ThS. Số cán bộ của trường đang theo học cao học và nghiên cứu sinh là 90 người, chiếm tỷ lệ 36% cán bộ giảng dạy, với 35 CB là nghiên cứu sinh, 55 CB là học viên cao học. Mặc dù số cán bộ có trình độ sau đại học của trường có tăng lên khả quan, song vẫn chưa đáp ứng cho yêu cầu giảng dạy với số lượng 22.000 sinh viên ở các loại hình đào tạo của trường (Nguồn: Kế hoạch chiến lược trung hạn 1999 – 2004).

Nhằm phát huy lợi thế của nhà trường (Đào tạo khoa học xã hội và nhân văn), với sứ mạng “là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học chất lượng cao; cung ứng nguồn nhân lực trình độ cao và có bản sắc riêng trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn; cung cấp các sản phẩm khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách xã hội; góp phần tạo dựng vị thế của KHXH&NV Việt Nam trong khu vực.” Từ năm 2007 đến năm 2010, nhà trường đã nâng số lượng ngành đào tạo lên 28 ngành với 53 chương trình giáo dục; đẩy mạnh liên kết đào tạo có hiệu quả với các đơn vị trong và ngoài nước, phục vụ kịp thời yêu cầu đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài cho thành phố Hồ Chí Minh, đồng bằng Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung. Hơn thế nữa với việc đa dạng hóa và thực tế hoá các ngành học giúp nhà trường có một lượng du học sinh nước ngoài đến học tập, nghiên cứu khoa học tại trường, đưa trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn trở thành trường hàng đầu thu hút nhiều nhất lượng sinh viên, học viên nước ngoài đến học ở Việt Nam. Điều này cũng có nghĩa là nhà trường cần một lực lượng giảng viên có đủ năng lực để phục vụ công tác giảng dạy. Đúng như chủ trương của Đảng trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung. Phát triển năm 2011) đã nêu: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời”. Nhằm phát triển lực lượng giảng viên có trình độ chuyên môn cao, đồng thời tạo động lực cho cán bộ trẻ được nhận về trường tiếp tục nâng cao trình độ, Đảng bộ Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã có các Nghị quyết lãnh đạo: Nghị quyết số 03-NQ/ĐU ngày 3/5/2006 và Nghị quyết số 08-NQ/ĐU ngày 29/11/2007 về “Hậu tuyển dụng”; Nghị quyết số 07-NQ/ĐU ngày 8/10/2007 về rà soát, sửa chữa, bổ sung, ban hành nội quy, quy chế; tiếp tục thực hiện công tác “Hậu tuyển dụng”. Ngày 30/10/2008, Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ giữa nhiệm kỳ xác định tiếp tục công tác “Hậu tuyển dụng”, tuyển dụng cán bộ có trình độ Thạc sỹ trở lên và xác định tỷ lệ % cán bộ có trình độ sau đại học trên tổng số cán bộ, viên chức mà nhà trường cần đạt được vào năm 2012.

Với những nổ lực phấn đấu kiên trì, bền bỉ cho công tác chuẩn hóa trình độ đội ngũ giảng viên, công tác thu hút các giảng viên có trình cao về trường. Tính từ năm 2007 – 2010, nhà trường đã có thêm 57 tiến sĩ, 139 thạc sĩ đào tạo trong và ngoài nước về trường làm công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Nâng tổng số giảng viên của trường lên 145 tiến sĩ (chiếm 28,66 %, trong đó có 3 giáo sư, 34 phó giáo sư); 287 thạc sĩ (chiếm 56,72% tổng số giảng viên). Có thể nói đây là một thành công lớn, chứng tỏ công tác “Hậu tuyển dụng” của nhà trường là đúng đắn. Tuy nhiên, do sự tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, số lượng là giảng viên ở trình độ cử nhân vẫn còn tương đối cao (chiếm 14,62%), phần lớn tập trung ở ngành ngoại ngữ, giáo dục thể chất.

Xác định công tác chuẩn hóa và nâng cao chất lượng, trình độ cho cán bộ giảng dạy là khâu trọng tâm, “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2010” theo Kết luận của Hội nghị Trung ương 9 (Khóa X) và theo định hướng, kế hoạch của Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, văn kiện Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ 2005 – 2010 và phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2010 – 2015 của Đảng bộ Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã nêu: “Lãnh đạo các chi ủy chú trọng công tác phát triển đội ngũ giảng viên, chuyên viên tại các đơn vị; phấn đấu bảo đảm các tiêu chuẩn về số lượng, phẩm chất, chuyên môn và hiệu quả công tác. Lãnh đạo chính quyền và Công đoàn cải tiến công tác thi đua - khen thưởng – kỷ luật nhằm phát huy cao nhất tiềm năng giảng dạy – nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên; xây dựng chế độ thu hút và đãi ngộ các nhà khoa học có trình độ cao về công tác tại trường”.

Thực hiện theo tinh thần Nghị quyết của Đảng bộ trường, nhiệm kỳ 2010 – 2015, Kế hoạch chiến lược phát triển Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn giai đoạn 2011 – 2015 (sau đây gọi tắt là Kế hoạch chiến lược) , nhà trường đề ra 7 chương trình, trong đó chương trình Phát triển nguồn nhân lực ở vị trí số 1 với mục tiêu chung: “Phát triển nhanh, vững chắc và toàn diện nguồn nhân lực, chuẩn hóa và nâng chất đội ngũ giảng viên, cán bộ, chuyên viên về giảng dạy, nghiên cứu, quản lý, đáp ứng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; lấy công tác phát triển nguồn nhân lực làm đòn bẩy nhằm đổi mới toàn diện hoạt động của nhà trường (chúng tôi nhấn mạnh)”. Để thực hiện nhiệm vụ đã nêu trên, Kế hoạch chiến lược đã đề ra những giải pháp cụ thể liên quan đến công tác chuẩn hóa chất lượng đội ngũ giảng viên:

- Xây dựng đề án, chương trình, kế hoạch thực hiện công tác xây dựng, phát triển nhân sự theo từng năm học, phân bố chỉ tiêu và giám sát việc thực hiện chỉ tiêu của các đơn vị, thay đổi cơ cấu giảng viên theo hướng tăng nhanh tỷ lệ tiến sĩ, thạc sĩ, thu hút các giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên được đào tạo ở nước ngoài.

- Thực hiện nghiêm việc rà soát chất lượng đội ngũ CBVC; xử lý kiên quyết, triệt để những trường hợp không đảm bảo các yêu cầu chuyên môn, trình độ chuyên môn (chương trình hậu tuyển dụng; về nguyên tắc, giảng viên phải có trình độ từ thạc sĩ trở lên mới được đứng lớp; trừ giảng viên giảng dạy ngoại ngữ không chuyên).

- Kết hợp xây dựng, kiện toàn các đơn vị mới với việc điều chỉnh các chỉ tiêu phù hợp với điều kiện của các đơn vị cũng như định hướng phát triển của nhà trường; điều chỉnh công tác tuyển dụng, hạn chế tối đa việc giữ sinh viên ở lại trường làm công tác giảng dạy; trừ một số sinh viên xuất sắc hệ Cử nhân tài năng giữ lại theo hướng học liên thông sau đại học kết hợp với công tác phục vụ tại khoa/ bộ môn.

- Thực hiện ký hợp đồng trách nhiệm với các giảng viên có trình độ cao đến tuổi về hưu song song với việc tạo nguồn đào tạo, bồi dưỡng giảng viên trẻ.

- Đẩy mạnh việc gửi CBVC ra nước ngoài học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ; đa dạng hóa hợp tác quốc tế nhằm phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là đội ngũ giảng viên.
Để chuyển hóa các giải pháp cụ thể đã nêu trên thành hiện thực, nhà trường cũng đã ban hành một số chính sách đãi ngộ cho các giảng viên tiếp tục nâng cao trình độ sau đại học.

Thực hiện việc đưa cán bộ trẻ đi đào tạo trình độ sau đại học ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước, bằng nguồn học bổng do các tổ chức nước ngoài tài trợ. Các CBVC dù đi học nước ngoài bằng nguồn kinh phí nào cũng đều được nhà trường cho hưởng 40% lương ngạch, bậc. Đối với các giảng viên trẻ đi đào tạo sau đại học trong nước bằng nguồn kinh phí tự túc, nhà trường có chế độ trợ cấp 50% học phí và cho làm việc tại trường để được hưởng các chế độ lương như các cán bộ, giảng viên khác. Mặt khác để động viên người học, đối với các nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc biên chế hoặc hợp đồng với trường khi bảo vệ luận án, luận văn đúng hạn được nhà trường hỗ trợ theo mức sau: Cao học: 1.500.000đ / luận văn; nghiên cứu sinh: cấp cơ sở 1.500.000đ / luận án, cấp nhà nước 2.000.000đ / luận án (Nguồn: Quy chế chi tiêu nội bộ ban hành bởi Quyết định số 01/QĐ-XHNV-KHTC của Hiệu trưởng, ngày 2/1/2013). Ngoài ra, Công đoàn trường cũng có chế độ thưởng cho những CBVC của trường bảo vệ luận văn, luận án đúng hạn từ 3.000.000đ – 6.000.000đ/ người.

Trong quá trình các giảng viên trẻ chưa đào tạo hoặc đang được đào tạo sau đại học, nhà trường tạm thời chuyển các giảng viên đó sang làm nhiệm vụ chuyên viên phục vụ các công tác khác. Khi các giảng viên đã hoàn tất chương trình với chức danh thạc sĩ thì nhà trường chuyển họ trở về công tác giảng dạy đúng chuyên môn. Cách làm này vừa tạo động lực cho cán bộ trẻ phấn đấu nâng cao trình độ, vừa góp phần ngăn chặn hiện tượng “Cử nhân dạy cử nhân”. Tính đến thời điểm hiện tại (tháng 12/2014) nhà trường có 77 CBVC đang học ở nước ngoài (15 người học ThS, 62 người học TS); có 169 CBVC đang học trong nước (83 người học ThS, 86 người học TS).
Đối với CBVC đã có bề dày trong hoạt động nghiên cứu khoa học và giảng dạy, nhà trường khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và chi thưởng khi các cán bộ này được Nhà nước xét phong chức danh Giáo sư, Phó giáo sư. Nhằm thu hút lực lượng trí thức trẻ được đào tạo trình độ sau đại học về công tác tại trường, nhà trường cũng có những chính sách hỗ trợ tối đa theo khả năng của nhà trường và đúng pháp luật để các CBVC đó an tâm công tác. Đồng thời để tạo nguồn nhân lực kế thừa, trong những năm qua, nhà trường giữ lại 70 sinh viên hệ Cử nhân tài năng thi tốt nghiệp loại giỏi để tiếp tục đào tạo lên trình độ sau đại học.

Với những biện pháp vừa quyết liệt, vừa động viên có tình có lý, tính từ năm 2010 đến 2014, công tác chuẩn hóa trình độ đội ngũ viên chức làm công tác giảng dạy của trường có những biến đổi khả quan.


Năm

CBGD

GS

PGS

TS

%

ThS

%

CN

%

2010

521

3

31

132

25,33

275

52,78

111

21,30

2011

493

3

36

150

30,42

299

60,64

44

08,92

2012

494

3

36

155

31,42

331

67,00

08

01,61

2013

511

3

38

169

33,07

396

77,49

08

01,56

2014

534

3

41

190

35,58

400

74,90

04

00,74


Bảng 1: (Nguồn: Trích Báo cáo tổng kết các năm học từ 2010 đến 2014)

Năm

CBGD

GS

PGS

TS

%

ThS

%

CN

%

2007

446

3

20

95

21,30

180

40,35

171

38,34

2010

521

3

31

132

25,33

275

52,78

111

21,30

2014

534

3

41

190

35,58

400

74,90

04

00,74

Bảng 2 : So sánh số CBVC là giảng viên các năm 2007, 2010, 2014

Nhằm tạo nguồn CBVC có đủ năng lực, trình độ chuyên môn, hàng năm (khoảng tháng 11) nhà trường thực hiện công tác tuyển dụng viên chức theo qui định của Đại học quốc gia thông qua hình thức thi tuyển công khai, dân chủ, minh bạch với các chỉ tiêu, phương thức tuyển dụng được thông báo rộng rãi trong trường và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Công tác thi tuyển đảm bảo tính công bằng, khách quan, chính xác. Số lượng thí sinh đăng ký dự tuyển hàng năm trung bình khoảng từ 60 đến 70 người. Đối với viên chức sau khi được tuyển dụng vào ngạch giảng viên phải phấn đấu trong vòng 3 năm phải thi đậu nghiên cứu sinh để tiếp tục đào tạo chương trình tiến sĩ (theo chủ trương chung, hiện nay nhà trường không tuyển chức danh giảng viên nếu không có bằng thạc sĩ) góp phần làm cho đội ngũ viên chức của trường nói chung, cho công tác giảng dạy nói riêng ngày càng phát triển đảm bảo chất lượng theo hướng bền vững.

Để cán bộ có điều kiện học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong giảng dạy và NCKH, Trường thường xuyên tổ chức các hội thảo khoa học, các chương trình tập huấn về ứng dụng CNTT trong dạy học, các buổi trao đổi chuyên môn với GV, các nhà khoa học trong và ngoài nước đến công tác tại trường. Ngoài ra, GV còn được tạo điều kiện để tham gia các chương trình giao lưu khoa học, trao đổi chuyên môn, tìm kiếm các học bổng NCS, cao học, thực tập sau tiến sĩ trong và ngoài nước,...

Vấn đề học ngoại ngữ của GV cũng được lãnh đạo nhà trường quan tâm và tạo điều kiện. Hàng năm trường cũng tổ chức các lớp tiếng Anh cho CBVC trường tham gia học tập, tạo điều kiệc cho CBVC tham gia vào các lớp ngắn hạn nâng cao trình độ ngoại ngữ ở các nước trên thế giới. Ngoài ra, những CBVC có nhu cầu học ngoại ngữ, tin học tại các trung tâm của trường đều được miễn học phí. Trong điều kiện kinh phí hạn hẹp của trường như hiện nay, đây là một sự cố gắng rất lớn của Trường để GV có điều kiện nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học tiếp cận với tri thức khoa học tiên tiến trên thế giới để vận dụng vào giảng dạy, nghiên cứu khoa học, quản lý, đào tạo và giao lưu quốc tế.

Cùng với việc thực hiện các chế độ hỗ trợ CBVC đi đào tạo chuyên môn, Trường đề ra các yêu cầu đối với vấn đề tự học, tự bồi dưỡng và rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ của GV, như: đọc sách, tham gia hội nghị, hội thảo, viết báo cáo khoa học, tham gia đề tài NCKH các cấp, dự các lớp tập huấn về chuyên môn và các hoạt động đổi mới phương pháp giảng dạy; xâm nhập thực tế phổ thông, dự giờ các GV trong tổ và tập trung chuẩn bị bài giảng,... Để khuyến khích cán bộ tham gia nghiên cứu khoa học, nhà trường có chế độ chi thưởng cụ thể như sau:

Stt

Nội dung

Mức hỗ trợ

1

Bài báo khoa học được đăng trên tạp chí chuyên ngành trong nước có chỉ số ISSN, được tính điểm công trình từ 0 đến 1 điểm

2.000.000 đ/bài

2

Bài báo khoa học được đăng trên tạp chí chuyên ngành trong nước có giấy phép xuất bản và số lưu chiểu, được tính điểm công trình từ 0 đến 0,5 điểm

1.000.000 đ/bài

3

Bài báo đăng kỷ yếu hội nghị, hội thảo trong nước đã xuất bản

800.000 đ/b

4

Bài báo đăng Tập san KHXH & NV trường

800.000 đ/b

5

Bài báo khoa học được đăng trên tạp chí chuyên ngành quốc tế có chỉ số ISI

15.000.000 đ/bài

6

Bài báo khoa học được đăng trên tạp chí chuyên ngành quốc tế có chỉ số ISSN

7.000.000 đ/bài

7

Bài báo khoa học được đăng trên kỷ yếu hội nghị, hội thảo quốc tế: bản monograph

3.000.000 đ/bài

8

Bài báo khoa học được đăng trên kỷ yếu hội nghị, hội thảo quốc tế: các chương sách viết từ nội dung hội thảo (Book chapter)

2.000.000 đ/bài


Nguồn: Quy chế chi tiêu nội bộ, ban hành bởi Quyết định số 01/QĐ-XHNV-KHTC của Hiệu trưởng, ngày 2/1/2013.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng không chỉ thực hiện đối với đội ngũ GV, cán bộ hành chính nghiệp vụ ở các đơn vị cũng được đào tạo, bồi dưỡng để nhằm đảm bảo trình độ, chức danh (ngạch, bậc), tinh thông nghiệp vụ, có khả năng tham mưu và thực hiện tốt công việc được giao.

Đội ngũ chuyên viên được tạo điều kiện tham gia học các lớp chứng chỉ của ngạch, tham dự các lớp tập huấn nghiệp vụ do Trường và Đại học Quốc gia tổ chức để nâng cao kỹ năng công tác và phương pháp làm việc. Ngoài ra, những chuyên viên có năng lực công tác được tạo điều kiện học tiếp cao học, nâng dần số cán bộ hành chính có học vị và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu công tác ở những vị trí có tính chuyên môn cao.
Đối với đội ngũ cán bộ quản lý (CBQL), Trường xác định, đây là đội ngũ lãnh đạo công tác chuyên môn, quản lý đội ngũ trí thức. Vì vậy, những người giữ chức vụ quản lý ở các đơn vị là những người có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức tốt, được tập thể tín nhiệm, ủng hộ và được bổ nhiệm vào chức vụ quản lý đúng quy trình, công khai, minh bạch.

Cùng với công tác bồi dưỡng chuyên môn, CBQL được tạo điều kiện để phấn đấu đạt các tiêu chuẩn xét bổ nhiệm vào các chức danh GS, PGS và các danh hiệu NGND, NGƯT; thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học và các chương trình giao lưu, trao đổi chuyên môn, kinh nghiệm quản lý,... trong và ngoài nước; tham gia các lớp lý luận chính trị cao cấp, bồi dưỡng kiến thức Quốc phòng - An ninh, các lớp tập huấn do Đại học Quốc gia và Trường tổ chức nhằm nâng cao nhận thức chính trị và nghiệp vụ quản lý.

Một trong những nội dung quan trọng trong công tác đào tạo, bồi dưỡng CBVC được Nhà trường hết sức chú trọng là công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức tác phong nhà giáo. Hàng năm, Trường có kế hoạch tổ chức học tập, quán triệt các nghị quyết của Đảng, phổ biến tình hình thời sự quốc tế và trong nước, các chủ trương của ngành giáo dục và đào tạo, của Đại học Quốc gia và của trường; triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, của ngành và các cuộc vận động liên quan đến các hoạt động của trường nhằm nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp cho CBVC. Qua đó, tăng cường tinh thần đoàn kết nhất trí và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc góp phần thực hiện thành công nhiệm vụ giáo dục và đào tạo của nhà trường.

Có thể nói, trong thời gian qua, các chủ trương, chính sách đúng đắn của Nhà trường đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã động viên khích lệ CBVC tích cực học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng toàn diện của đội ngũ nhà giáo, CBQL nói riêng và CBVC nói chung. Số GV cử đi học tập, đào tạo, bồi dưỡng tăng hàng năm, sau khi học tập trở về đảm đương tốt nhiệm vụ đào tạo ở các đơn vị. Cán bộ hành chính ở các phòng ban được tham gia học tập, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ phục vụ tốt công tác ở các phòng ban chức năng.

3.Kết luận

Với sự lãnh đạo đúng đắn và năng động của Đảng ủy và Ban Giám hiệu, được sự đồng thuận, ý thức tự giác của tập thể CBVC của trường, nhà trường đã từng bước khắc phục những khó khăn, kiên quyết cải tạo tình trạng yếu kém về chất lượng trong hoạt động đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ giảng viên bằng những biện pháp mang tính đột phá. Trong thời gian tới, Trường tiếp tục thực hiện các chủ trương, chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBVC, trong đó ưu tiên cho đội ngũ GV và CBQL để nâng cao hơn nữa chất lượng quản lý và đào tạo của nhà trường. Đồng thời, sẽ có nhiều hình thức, biện pháp để đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức trách nhiệm xây dựng trường, tinh thần tích cực tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ và trau dồi đạo đức nghề nghiệp, lương tâm nhà giáo trong CBVC toàn trường.

Về công tác quản lý, Trường tiếp tục thực hiện Quy định về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và quản lý cán bộ công chức, viên chức, hợp đồng lao động, Quy chế chi tiêu nội bộ của trường; xây dựng quy hoạch cán bộ chuyên môn và triển khai công tác định biên CBVC đến năm 2020 theo hướng chuẩn hóa về mặt chức danh, trình độ, đảm bảo chất lượng, đủ số lượng nhằm đáp ứng công tác đào tạo và phục vụ đào tạo.

Phương hướng từ nay đến năm 2030, nhà trường sẽ giảm dần tỷ lệ giảng viên có trình độ thạc sĩ, tăng nhanh tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ nhằm đáp ứng công tác đào tạo và phục vụ đào tạo; mở rộng tổ chức liên kết đào tạo với các trường có uy tín khoa học trên thế giới và trong khu vực đưa Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh trở thành đại học nghiên cứu và giảng dạy, góp phần xây dựng nền kinh tế tri thức, hoàn thành cơ bản công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là nhiệm vụ quan trọng, lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nhà trường. Điều đó không chỉ quyết định bằng các chủ trương chính sách mà cần có sự tích cực hưởng ứng và tự giác thực hiện của toàn thể CBVC. Có như vậy mới xây dựng được đội ngũ vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, góp phần quan trọng khẳng định uy tín và vị thế của nhà trường trong xã hội.

TS.Trần Hoàng Hảo, Phó trưởng Phòng Tổ chức – Cán bộ
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.